Thông tư 19/2011/TT-BCA Quy định chi tiết thi hành một số nội dung áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
|
BỘ CÔNG AN
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------
|
|
Số: 19/2011/TT-BCA
|
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2011
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
Căn
cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một
số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 quy định việc áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng; Nghị định số 66/2009/NĐ-CP
ngày 01/8/2009 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2003/NĐ-CP
ngày 24/11/2003; Nghị định số 118/2010/NĐ-CP ngày 29/12/2010 về sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Nghị định quy định về việc áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng;
Căn cứ Nghị định số 77/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an;
Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số nội dung áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào trường giáo dưỡng như sau:
Chương
1.
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư
này quy định chi tiết về đối tượng, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào trường giáo dưỡng (sau đây viết gọn là biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng); tổ chức, quản lý trường giáo dưỡng; chế độ đối với học sinh
trường giáo dưỡng và kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
Thông tư
này áp dụng đối với:
1. Người
bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;
2.
Trường giáo dưỡng;
3. Công
an các đơn vị, địa phương;
4. Các
tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng.
Điều
3. Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
1. Người
bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là người thuộc trường hợp quy
định tại các điểm a, b, c, d và điểm đ khoản 2 Điều 2 Nghị định số
142/2003/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 66/2009/NĐ-CP (sau
đây viết gọn là Nghị định số 142/2003/NĐ-CP); trong đó lưu ý:
a) Điểm
c khoản 2 Điều 2 được hiểu là: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần
thực hiện một trong các hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây
rối trật tự công cộng hoặc tái phạm một trong các hành vi đó hoặc thực hiện từ
hai hành vi này trở lên trong thời hạn mười hai tháng nhưng chưa đến mức truy
cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú
nhất định.
b) Điểm
d khoản 2 Điều 2 được hiểu là: Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma
túy thuộc loại côn đồ hung hãn, nhiều lần thực hiện một trong các hành vi gây
rối trật tự công cộng; càn quấy, gây gổ đánh nhau; sử dụng vũ lực hành hung
người khác; chống người thi hành công vụ; tổ chức đua xe trái phép hoặc tái
phạm một trong các hành vi đó hoặc thực hiện từ hai hành vi này trở lên trong
thời hạn mười hai tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
c) Điểm
đ khoản 2 Điều 2 được hiểu là: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đang chấp
hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong giai đoạn cắt cơn, phục
hồi mà nhiều lần có một trong các hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc
nhỏ, sử dụng vũ lực chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự tại cơ sở đó
hoặc tái phạm một trong các hành vi đó hoặc thực hiện từ hai hành vi này trở
lên trong thời hạn mười hai tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự.
2. Các
trường hợp sau đây được coi là không có nơi cư trú nhất định:
a) Không
xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú của người quy định
tại khoản 1 Điều này và người đó thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở
nhất định.
b) Người
quy định tại khoản 1 Điều này có nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm
trú nhưng không thường xuyên sinh sống tại đó và thường xuyên đi lang thang,
không ở nhất định tại nơi đăng ký thường trú, tạm trú.
3.
Trường hợp hành vi vi phạm lần sau cùng thì lập biên bản vi phạm hành chính
nhưng không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và lập hồ sơ đề nghị áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; nếu sau khi xem xét, thấy không đủ
điều kiện để áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thì phải chuyển ngay
hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để ra quyết định xử
phạt theo quy định của pháp luật.
4.
Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng mà bỏ trốn, đến khi bị bắt lại, người đó
đủ hoặc trên 18 tuổi thì theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Pháp lệnh Xử lý vi
phạm hành chính năm 2002, Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) nơi đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào
trường giáo dưỡng làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hủy
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo
dục theo đúng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ
sở giáo dục.
Điều
4. Kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
1. Kinh
phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được bố trí
trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Công an, bao gồm:
a) Kinh
phí bảo đảm cho việc lập, xét duyệt hồ sơ, tổ chức đưa người vào trường giáo
dưỡng; truy tìm và bắt giữ đối tượng bỏ trốn; quản lý, ăn, mặc, sinh hoạt, khám
bệnh, chữa bệnh cho đối tượng trong thời gian được quản lý tại Công an cấp
huyện và cho học sinh trường giáo dưỡng.
b) Kinh
phí cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện và
tổ chức hoạt động của trường giáo dưỡng; kinh phí cho học tập, dạy nghề, hoạt
động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao và tổ chức cai nghiện ma túy cho học
sinh trường giáo dưỡng;
c) Kinh
phí cho các khoản chi khác có liên quan đến việc áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng.
2. Lập
dự trù kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
được thực hiện như sau:
a) Công
an xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Công an cấp xã) lập dự trù kinh
phí gửi Công an cấp huyện; Công an cấp huyện tổng hợp, báo cáo Công an tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết gọn là Công an cấp tỉnh). Trên cơ
sở đề xuất của Công an cấp huyện và các đơn vị chức năng, Công an cấp tỉnh có
trách nhiệm lập dự trù kinh phí cho việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng của địa phương mình gửi Cục Tài chính – Bộ Công an.
b)
Trường giáo dưỡng lập dự trù kinh phí cho các khoản chi nêu tại khoản 1 Điều
này liên quan đến thực hiện việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
của trường, báo cáo Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp.
Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp lập dự trù kinh phí
chung cho các trường giáo dưỡng gửi Cục Tài chính – Bộ Công an.
c) Cục
Tài chính lập dự trù kinh phí chung bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng trên cơ sở dự trù kinh phí của Công an cấp tỉnh và của Tổng
cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, trình lãnh đạo Bộ Công an
xem xét, quyết định.
Chương
2.
THỦ TỤC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
Điều
5. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng
1. Việc
lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng phải thực hiện theo đúng quy định
tại Điều 9 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP
2. Công
an cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp lập hồ sơ đề nghị áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng để trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
xem xét, quyết định.
Điều
6. Trách nhiệm trong việc đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng và thi hành quyết
định đưa vào trường giáo dưỡng
1.
Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm:
a) Giúp
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng
theo quy định của pháp luật;
b) Thực
hiện theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của Công an cấp huyện trong việc lập hồ sơ và
thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng;
c) Tổ
chức bắt giữ người có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng bỏ trốn;
d) Quản
lý, giám sát người có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng được phép về gia
đình theo quy định, người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa
vào trường giáo dưỡng.
2.
Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm:
a) Hướng
dẫn Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng;
b) Làm
Thường trực Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường giáo dưỡng; trường hợp không
thể tham dự cuộc họp Hội đồng thì ủy quyền cho cấp Phó tham dự cuộc họp với tư
cách là Thường trực Hội đồng; làm báo cáo của Hội đồng tư vấn về việc đưa vào
trường giáo dưỡng gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp;
c) Tổ
chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng; giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc lập hồ sơ đề nghị đưa
người vào trường giáo dưỡng theo thẩm quyền;
d) Ra
quyết định truy tìm theo thẩm quyền và tổ chức bắt giữ người trốn chấp hành
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng.
3. Đội
trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội có trách nhiệm:
a) Chủ
trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan giúp Trưởng Công an cấp huyện xem
xét, thẩm tra hồ sơ của người bị đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng;
b) Chậm
nhất là bảy ngày làm việc, trước khi họp Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường
giáo dưỡng phải sao gửi tài liệu tới các thành viên Hội đồng và đại diện Thường
trực Hội đồng nhân dân cấp huyện. Tài liệu bao gồm:
- Bản
tóm tắt lý lịch của người vi phạm;
- Bản
tóm tắt hành vi vi phạm và văn bản về các biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu
có);
- Ý kiến
của các tổ chức và văn bản đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã.
c) Gửi
giấy mời dự cuộc họp Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường giáo dưỡng tới các
thành viên Hội đồng và đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện;
d) Giúp
Trưởng Công an cấp huyện thẩm tra, xác minh để đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cùng cấp về việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng;
tổ chức thi hành quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Điều
7. Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường giáo dưỡng và thành phần tham dự cuộc
họp của Hội đồng
1. Theo
quy định tại Điều 10 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP, thành phần Hội đồng tư vấn về
việc đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm:
a)
Trưởng Công an cấp huyện làm Thường trực Hội đồng;
b)
Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện làm thành viên Hội đồng;
c)
Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện làm thành viên Hội đồng.
2. Thành
phần tham dự cuộc họp của Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường giáo dưỡng bao
gồm:
a) Các
thành viên quy định tại khoản 1 Điều này do Trưởng Công an cấp huyện chủ trì;
b) Đại
diện Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện được mời tham dự cuộc họp nhưng
không tham gia biểu quyết; trường hợp đại diện này không đến dự thì cuộc họp
vẫn được tiến hành.
Điều
8. Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng
1. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, ra quyết định việc đưa vào trường giáo
dưỡng trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội
đồng tư vấn.
2. Quyết
định đưa vào trường giáo dưỡng có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được
gửi ngay cho người bị đưa vào trường giáo dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của
người đó, cơ quan Công an cấp huyện, Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc nơi đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường
giáo dưỡng.
Điều
9. Thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng
1. Trong
thời hạn năm ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội
Công an cấp huyện có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định. Việc thi hành
quyết định phải được lập biên bản; biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu
ở Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, một bản gửi kèm theo hồ sơ
đưa người vào trường giáo dưỡng.
Đối với
trường hợp người có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng nhưng chưa đưa đi chấp
hành quyết định mà có đơn đề nghị hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định thì phải
tiếp nhận và xem xét ngay, nếu thấy có đủ điều kiện để được hoãn hoặc miễn theo
quy định tại Điều 20 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này
thì Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phải làm văn
bản đề xuất Trưởng Công an cấp huyện báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp
ra quyết định hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định cho người đó.
Thời
gian chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng được tính từ ngày người bị
áp dụng biện pháp này được đưa đi chấp hành quyết định (bao gồm cả thời gian đi
đường và thời gian quản lý tại Công an cấp huyện).
2. Việc
giao, nhận người chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng phải được lập
thành biên bản, trong đó ghi rõ tình trạng sức khỏe của người được giao, nhận;
tài liệu, hồ sơ kèm theo; tư trang, đồ dùng cá nhân mang theo và những vấn đề
khác có liên quan đến việc giao, nhận. Biên bản giao, nhận phải được sao gửi về
Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp để quản lý, theo dõi.
3. Người
chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc người bị bắt giữ theo quyết
định truy tìm, nếu không tự giác chấp hành hoặc có hành vi chống đối thì có thể
bị khóa tay để áp giải hoặc bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết khác
theo quy định của pháp luật để buộc phải chấp hành. Trường hợp hành vi chống
đối có dấu hiệu của tội phạm thì phải lập hồ sơ để xem xét truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều
10. Quản lý người không có nơi cư trú nhất định có biểu hiện lẩn trốn, gây khó
khăn cho quá trình lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng và người phải chấp hành
quyết định trước khi đưa vào trường giáo dưỡng tại Công an cấp huyện
1. Quản
lý người không có nơi cư trú nhất định có biểu hiện lẩn trốn, gây khó khăn cho
quá trình lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng.
Khoản 2
Điều 9 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP quy định trong thời gian lập hồ sơ, nếu đối
tượng không có nơi cư trú nhất định mà có hành vi trốn tránh, gây khó khăn cho
quá trình lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng, thì Trưởng Công an cấp huyện ra
quyết định quản lý họ tại Công an cấp huyện trong thời hạn không quá mười lăm
ngày để lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng. Để tránh oan, sai hoặc quản lý
không đúng đối tượng, việc đề xuất, xem xét, quyết định quản lý đối tượng nêu
trên chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Phải
là người không có nơi cư trú nhất định và có đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp
đưa vào trường giáo dưỡng;
b) Phải
có căn cứ chứng tỏ rằng người đó có biểu hiện lẩn trốn, gây khó khăn cho quá
trình lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng.
Việc
quản lý và chế độ, chính sách đối với người bị quản lý phải thực hiện theo đúng
quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP và hướng dẫn tại các
khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này.
2. Quản
lý người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng tại Công an cấp huyện.
Theo quy
định tại khoản 2 Điều 15 và khoản 5 Điều 19 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP, việc
quản lý người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng tại Công an cấp huyện
để tiến hành các thủ tục cần thiết trước khi đưa họ vào trường giáo dưỡng chỉ
được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Cần
phải có thời gian để lập danh bản, lăn tay, chụp ảnh và tiến hành các thủ tục
cần thiết khác trước khi đưa vào trường giáo dưỡng.
b) Người
bị bắt giữ theo quyết định truy tìm được chuyển đến Công an cấp huyện để quản
lý trong thời gian chờ cơ quan có trách nhiệm đến nhận để đưa vào trường giáo
dưỡng.
3. Quyết
định quản lý người quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này do Trưởng Công an cấp
huyện (hoặc Phó trưởng Công an cấp huyện được ủy quyền) ký; quyết định phải ghi
rõ số, ngày, tháng, năm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ
tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị quản lý; lý
do, điều, khoản của văn bản được áp dụng; thời hạn quản lý, cơ quan chịu trách
nhiệm thi hành quyết định.
Đội Cảnh
sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với Công an cấp xã, gia đình
hoặc người giám hộ tổ chức đưa người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng
đến nơi quản lý họ tại Công an cấp huyện.
4. Công
an cấp huyện có trách nhiệm tổ chức quản lý và bố trí nơi quản lý người đã có
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng cho phù hợp. Trường hợp nơi quản lý đối
tượng được bố trí trong khu vực nhà tạm giữ người theo thủ tục hành chính hoặc
trong khu vực nhà tạm giữ hình sự thì phải có buồng dành riêng cho việc quản lý
họ, ngoài cửa phải có biển ghi rõ “Buồng quản lý người đưa vào trường giáo
dưỡng”. Nghiêm cấm việc quản lý người đưa vào trường giáo dưỡng trong cùng một
buồng với người bị tạm giữ, tạm giam theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc quản lý
chung nam, nữ trong cùng một buồng hoặc quản lý tại những nơi không bảo đảm vệ
sinh, an toàn.
5. Chế
độ ăn, ở của người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng trong thời gian
quản lý tại Công an cấp huyện được hưởng như chế độ ăn, ở của học sinh trong
trường giáo dưỡng; kinh phí do ngân sách nhà nước cấp trong dự toán ngân sách
hàng năm của Bộ Công an.
6.
Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng chết trong thời
gian đang được quản lý tại Công an cấp huyện thì Thủ trưởng đơn vị nơi quản lý
người phải báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ
quan y tế gần nhất đến lập biên bản xác định nguyên nhân chết và giải quyết
theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải thông báo cho thân nhân người chết
biết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi làm xong các thủ tục nêu trên, nếu thân
nhân người chết không đến nhận tử thi thì đơn vị quản lý đối tượng có trách
nhiệm tổ chức mai táng. Kinh phí mai táng do ngân sách nhà nước cấp.
Điều
11. Truy tìm và bắt giữ người trốn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo
dưỡng
1. Việc
truy tìm và bắt giữ người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng bỏ trốn
phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 19 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP và
hướng dẫn tại Thông tư này.
2.
Trường hợp người phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng bỏ trốn
trước khi thi hành quyết định thì Trưởng Công an cấp huyện (nơi người đó cư trú
hoặc nơi đã lập hồ sơ) ra quyết định truy tìm. Trong trường hợp Công an cấp
huyện đã nhận đối tượng để đưa đi chấp hành quyết định mà đối tượng bỏ trốn
trên đường dẫn giải hoặc bỏ trốn trong thời gian quản lý tại Công an cấp huyện
thì Trưởng Công an cấp huyện ra quyết định truy tìm.
3. Tùy
từng trường hợp cụ thể, quyết định truy tìm được gửi cho cơ quan Công an và Ủy
ban nhân dân địa phương nơi cần thiết để phục vụ cho việc truy tìm và bắt giữ
đối tượng.
Điều
12. Hoãn, miễn chấp hành quyết định; đình chỉ thi hành quyết định đưa vào
trường giáo dưỡng
1. Người
đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, nhưng chưa được đưa đi trường giáo
dưỡng, được hoãn chấp hành quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Đang
ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế từ cấp huyện trở lên;
b) Gia
đình đang có khó khăn đặc biệt có đơn đề nghị và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Theo quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP thì “thân nhân”
được hiểu là những người thân thích như ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố, mẹ;
anh, chị, em ruột và những người trực tiếp nuôi dưỡng đang sống trong cùng một
gia đình. Nếu những người thân nhân này bị ốm nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo
không tự phục vụ được bản thân mà ngoài người có quyết định đưa vào trường giáo
dưỡng, gia đình không còn ai để chăm sóc người bệnh, lao động để duy trì cuộc
sống gia đình thì được hoãn việc thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng.
Thời hạn
được hoãn quy định như sau: Đối với trường hợp ốm nặng hoặc hoàn cảnh gia đình
khó khăn đặc biệt thì có thể cho họ được hoãn chấp hành quyết định đến khi khỏi
bệnh hoặc hoàn cảnh gia đình hết khó khăn đặc biệt.
Công an
cấp huyện, cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thường xuyên
kiểm tra, giám sát người được hoãn chấp hành quyết định; khi điều kiện được
hoãn không còn thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội có trách
nhiệm tổ chức đưa người đó vào trường giáo dưỡng.
2. Người
đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, nhưng chưa được đưa đi trường giáo
dưỡng được miễn chấp hành quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Đang
mắc bệnh hiểm nghèo, người bị tai nạn nặng không có khả năng bình phục, có
chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế từ cấp huyện trở lên; người bị mắc
bệnh tâm thần trong thời gian được hoãn có kết luận của cơ quan giám định có
thẩm quyền;
b) Phụ
nữ đang có thai, có chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế từ cấp huyện
trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.
Đối với
người đang được hoãn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được
xét miễn chấp hành quyết định khi thời gian đã được hoãn ít nhất bằng một nửa
thời hạn ghi trong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng.
3.
Trường hợp người phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng bị chết
trước khi thi hành thì Trưởng Công an cấp huyện báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cùng cấp ra quyết định đình chỉ việc thi hành quyết định đó.
Chương
3.
TỔ CHỨC, QUẢN LÝ TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG VÀ CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI
HỌC SINH TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
Điều
13. Thành lập, tổ chức, quản lý trường giáo dưỡng
1. Bộ
trưởng Bộ Công an ra quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể và thống nhất
quản lý các trường giáo dưỡng trên phạm vi cả nước.
2.
Trường giáo dưỡng được thành lập theo khu vực. Đối với các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương hàng năm có số lượng người phải đưa vào trường giáo dưỡng từ
500 người trở lên thì có thể lập phương án đề nghị Bộ trưởng Bộ Công an xem
xét, quyết định thành lập trường giáo dưỡng đặt tại tỉnh, thành phố đó. Phương
án thành lập trường giáo dưỡng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương đề nghị phải nêu rõ quy mô, địa điểm, kinh phí xây dựng và
những vấn đề khác có liên quan đến việc thành lập và tổ chức hoạt động của
trường giáo dưỡng.
3. Đối
với trường giáo dưỡng có quy mô trên 1000 học sinh nếu cần thiết phải thành lập
các phân hiệu, thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải xây dựng đề án cụ thể để
báo cáo Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp
trình Bộ trưởng Bộ Công an xem xét, quyết định thành lập. Nội dung của đề án
phải nêu rõ quy mô, địa điểm, kinh phí xây dựng và những vấn đề khác có liên
quan đến việc thành lập trường giáo dưỡng và phân hiệu trường giáo dưỡng.
Điều
14. Tạm thời đưa học sinh ra khỏi trường giáo dưỡng theo yêu cầu của cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự
1. Việc
tạm thời đưa học sinh ra khỏi trường giáo dưỡng được thực hiện khi có yêu cầu
bằng văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền quy định tại
Điều 26 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP. Văn bản yêu cầu phải ghi rõ họ tên, ngày,
tháng, năm sinh, Giấy chứng minh nhân dân (nếu có), nơi cư trú của học sinh, lý
do và thời hạn tạm thời đưa học sinh ra khỏi trường giáo dưỡng; số quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng và ngày, tháng, năm, người ra quyết định. Nếu là yêu
cầu của Viện Kiểm sát hoặc Tòa án thì phải có thêm công văn đề nghị của cơ quan
Công an cùng cấp. Căn cứ vào công văn đề nghị, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng ra
quyết định tạm thời đưa học sinh ra khỏi trường giáo dưỡng và bàn giao học sinh
đó cho cán bộ Công an được giao trách nhiệm đến nhận học sinh. Cán bộ đến nhận
học sinh phải có Giấy chứng minh Công an nhân dân và giấy giới thiệu của cơ
quan Công an từ cấp huyện trở lên. Việc giao, nhận học sinh phải được lập biên
bản.
2. Khi
hết thời hạn tạm thời đưa học sinh ra khỏi trường giáo dưỡng, cơ quan đã có yêu
cầu phải có trách nhiệm đưa trả học sinh về trường giáo dưỡng. Trường hợp có
yêu cầu gia hạn tạm thời đưa học sinh ra khỏi trường giáo dưỡng thì Thủ trưởng
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền phải có công văn đề nghị Hiệu
trưởng trường giáo dưỡng ra quyết định gia hạn đưa học sinh ra khỏi trường giáo
dưỡng theo mẫu quy định.
Điều
15. Giải quyết trường hợp học sinh có việc tang của thân nhân hoặc có trường
hợp cấp thiết khác
1. Việc
giải quyết cho học sinh về gia đình khi có việc tang của thân nhân hoặc có
trường hợp cấp thiết khác thực hiện theo Điều 37 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP và
hướng dẫn tại Thông tư này.
2. Việc
tang của thân nhân học sinh là khi người đó có ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố,
mẹ, người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc anh, chị, em ruột chết.
Trường
hợp cấp thiết khác là trường hợp mà thân nhân của học sinh bị bệnh nặng hoặc bị
tai nạn nặng không tự phục vụ được mà ngoài học sinh đó ra không còn ai để chăm
sóc, giúp đỡ. Trong trường hợp này, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có thể xét
cho học sinh về gia đình không quá năm ngày, không kể thời gian đi đường.
Trường hợp thời hạn năm ngày đã hết mà thân nhân của học sinh vẫn chưa bình
phục để tự phục vụ mình, thì gia đình hoặc người giám hộ phải làm đơn có xác
nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi học sinh đó cư trú gửi Hiệu trưởng trường
giáo dưỡng xem xét, làm văn bản đề nghị Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi
hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp gia hạn cho học sinh được ở lại phục vụ cho
đến khi thân nhân của họ tự phục vụ được.
Điều
16. Tạm đình chỉ chấp hành quyết định hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn
lại tại trường giáo dưỡng trong trường hợp học sinh bị ốm nặng, mắc bệnh hiểm
nghèo hoặc có thai
1.
Trường hợp học sinh đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng bị ốm nặng,
có chứng nhận của trung tâm y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên và gia
đình có đơn bảo lãnh xin đưa về gia đình điều trị thì Hiệu trưởng trường giáo
dưỡng phải làm báo cáo (có gửi kèm giấy chứng nhận của trung tâm y tế hoặc bệnh
viện từ cấp huyện trở lên và đơn đề nghị của gia đình học sinh), đề nghị Tổng
cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp xem xét, ra
quyết định tạm đình chỉ chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng.
2. Đối
với trường hợp học sinh mắc bệnh hiểm nghèo hoặc phụ nữ có thai thì được miễn
chấp hành phần thời gian còn lại. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng thành lập Hội
đồng xét miễn (thành phần như thành phần Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn
chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 2
Điều 18 Thông tư này) và lập hồ sơ đề nghị miễn chấp hành phần thời gian còn
lại cho học sinh. Trong hồ sơ đề nghị phải có bệnh án hoặc bản sao bệnh án của
trung tâm y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên gửi về Tổng cục Cảnh sát Thi
hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp để xem xét, quyết định.
3. Trong
thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của trường giáo
dưỡng, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp
xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành quyết định hoặc miễn chấp hành phần
thời gian còn lại cho các trường hợp nêu tại các khoản 1, 2 Điều này.
4. Trong
thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định tạm đình chỉ, hoặc ba
ngày, kể từ ngày về đến địa phương, người được tạm đình chỉ chấp hành quyết
định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc được miễn chấp hành phần thời gian còn lại
phải đến trình báo Ủy ban nhân dân cấp xã nơi về cư trú. Trường hợp người đó ốm
nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà không thể tự mình đến trình báo được thì thân
nhân của người đó phải đến báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
5.
Trường hợp học sinh được tạm đình chỉ chấp hành quyết định để đưa về nhà điều
trị bị chết thì gia đình phải báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã và trường
giáo dưỡng biết (kèm theo bản sao giấy khai tử có xác nhận của Ủy ban nhân dân
cấp xã). Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải làm báo cáo gửi Tổng cục Cảnh sát
Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp và thông báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa người đó vào trường giáo dưỡng để biết.
Điều
17. Chế độ ăn, mặc, đồ dùng sinh hoạt, thăm gặp người thân; nhận, gửi thư; nhận
tiền, quà của học sinh trường giáo dưỡng
1. Chế
độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh trường giáo dưỡng được thực hiện
theo quy định tại Điều 27 và Điều 28 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP.
Căn cứ
tình hình thực tế và nhu cầu chăm lo chế độ ăn uống nhằm bảo đảm sức khỏe cho
học sinh, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có thể điều chỉnh hoặc hoán đổi định
mức sử dụng giữa các loại thực phẩm cho phù hợp để học sinh sử dụng hết theo
tiêu chuẩn quy định.
2. Chế
độ thăm gặp người thân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà của học sinh trường giáo
dưỡng phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 36 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP
và hướng dẫn tại Thông tư này.
Học sinh
khi gửi, nhận thư, tiền, quà đều phải qua kiểm tra của trường giáo dưỡng. Riêng
tiền đồng Việt Nam,
ngoại tệ, các đồ trang sức quý hiếm (đồng hồ, nhẫn, dây chuyền, bông tai…),
hoặc giấy tờ có giá, học sinh phải gửi vào bộ phận lưu ký của trường giáo dưỡng
và được sử dụng theo quy định của Bộ Công an.
Điều
18. Giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo
dưỡng trong trường hợp người đang chấp hành tại trường có tiến bộ rõ rệt hoặc
lập công
1. Điều
kiện xét giảm hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại được quy định tại
khoản 1 Điều 38 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này,
trong đó cần lưu ý một số nội dung sau:
Học sinh
có tiến bộ rõ rệt là học sinh có biểu hiện bằng những hành động cụ thể như
thành thật hối lỗi; tích cực trong lao động, học tập; nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật và nội quy trường giáo dưỡng.
Học sinh
lập công là học sinh có hành động cụ thể như đã giúp Cơ quan điều tra phát
hiện, ngăn ngừa tội phạm hoặc phát hiện, ngăn ngừa những học sinh khác có hành
vi trốn, chống phá trường; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị lớn trong
lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có
thành tích đặc biệt xuất sắc trong học tập; dũng cảm cứu người, cứu tài sản có
giá trị lớn của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác.
2. Hiệu
trưởng trường giáo dưỡng thành lập Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp
hành phần thời gian còn lại cho học sinh; thành phần Hội đồng bao gồm:
- Hiệu
trưởng trường giáo dưỡng làm Chủ tịch Hội đồng;
- Phó
Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phụ trách công tác giáo vụ làm Phó Chủ tịch Hội
đồng;
- Đội
trưởng giáo vụ làm Ủy viên thư ký;
- Đội
trưởng giáo viên chủ nhiệm làm Ủy viên;
- Đội
trưởng giáo viên văn hóa làm Ủy viên;
- Chỉ
huy lực lượng Cảnh sát bảo vệ trường giáo dưỡng làm Ủy viên;
- Trưởng
phân hiệu làm Ủy viên (đối với trường giáo dưỡng có phân hiệu);
- Bệnh
xá trưởng hoặc bác sĩ trực tiếp điều trị làm Ủy viên (nếu học sinh được đề nghị
xét miễn chấp hành phần thời gian còn lại là người đang mắc bệnh hiểm nghèo).
Đối với
trường giáo dưỡng có phân hiệu thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng ra quyết định
thành lập tại mỗi phân hiệu một Tiểu ban xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành
phần thời gian còn lại cho học sinh với thành phần bao gồm:
- Trưởng
phân hiệu trường giáo dưỡng làm Trưởng Tiểu ban;
- Phó
trưởng phân hiệu trường giáo dưỡng làm Phó trưởng Tiểu ban;
- Tổ
trưởng giáo vụ Phân hiệu làm Ủy viên thư ký;
- Đại
diện giáo viên chủ nhiệm Phân hiệu làm Ủy viên;
- Đại
diện giáo viên văn hóa Phân hiệu làm Ủy viên;
- Chỉ
huy lực lượng Cảnh sát bảo vệ phân hiệu làm Ủy viên;
- Cán bộ
phụ trách y tế Phân hiệu hoặc bác sĩ điều trị làm Ủy viên (nếu học sinh được đề
nghị xét miễn chấp hành phần thời gian còn lại là người mắc bệnh hiểm nghèo).
Tiểu ban
có trách nhiệm xem xét đề nghị việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời
gian còn lại tại trường giáo dưỡng cho học sinh của phân hiệu mình và làm báo
cáo gửi Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại
cho học sinh.
Căn cứ
vào tiêu chuẩn, điều kiện và kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, bốn tháng
một lần (trừ trường hợp có yêu cầu xét giảm hoặc miễn đột xuất), Hội đồng xét
giảm hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng có trách
nhiệm tổ chức để xem xét từng trường hợp cụ thể. Khi Hội đồng họp, giáo viên
chủ nhiệm phải trình bày cụ thể và đề xuất mức giảm thời hạn hoặc miễn chấp
hành cho từng học sinh thuộc lớp mình phụ trách (nếu ở trường giáo dưỡng có
phân hiệu thì giáo viên chủ nhiệm chỉ tham gia họp tiểu ban). Sau đó, Hội đồng
xem xét, quyết định việc đề nghị và làm hồ sơ gửi về Tổng cục Cảnh sát Thi hành
án hình sự và hỗ trợ tư pháp để xem xét, quyết định.
Hồ sơ đề
nghị giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo
dưỡng cho học sinh gồm biên bản họp Hội đồng, báo cáo đề nghị của trường giáo
dưỡng, danh sách học sinh được đề nghị xét giảm hoặc miễn và các tài liệu khác
có liên quan.
3. Trong
thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của trường giáo dưỡng,
Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp phải
thành lập Hội đồng xét duyệt do Tổng cục trưởng hoặc Phó Tổng cục trưởng được
ủy quyền làm Chủ tịch Hội đồng, thành phần bao gồm: Trưởng phòng theo dõi công
tác cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên thường trực Hội đồng, Phó
Trưởng phòng theo dõi công tác ở cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng làm Ủy viên
thư ký Hội đồng, cán bộ theo dõi công tác xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành
phần thời gian còn lại làm Ủy viên Hội đồng.
Đại diện
lãnh đạo trường giáo dưỡng trực tiếp báo cáo trước Hội đồng xét giảm thời hạn
hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho từng trường hợp.
Hội đồng
xét giảm hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại căn cứ vào báo cáo của đại
diện lãnh đạo trường giáo dưỡng, hồ sơ đề nghị của trường giáo dưỡng, đối chiếu
với các tiêu chuẩn để xem xét, quyết định mức giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành
phần thời gian còn lại cho từng học sinh.
Tổng cục
trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp xem xét, ra
quyết định giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại cho học
sinh trong thời hạn năm ngày sau khi họp Hội đồng.
Quyết
định giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại được gửi cho Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa người đó vào trường
giáo dưỡng, Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ về cư trú; đồng
thời, tổ chức công bố cho học sinh biết và lưu vào hồ sơ học sinh để theo dõi.
4.
Trường hợp học sinh đã được đề nghị giảm thời hạn hoặc đề nghị miễn chấp hành
phần thời gian còn lại, nhưng trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền xem xét,
quyết định mà có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nghiêm trọng nội quy trường
giáo dưỡng thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có trách nhiệm tổ chức họp Hội
đồng, lập hồ sơ báo cáo ngay với Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành án
hình sự và hỗ trợ tư pháp để đề nghị đưa học sinh đó ra khỏi danh sách xét
miễn, giảm; trường hợp đã có quyết định giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần
thời gian còn lại, nhưng chưa thi hành thì đề nghị hủy quyết định.
Điều
19. Khen thưởng và xử lý vi phạm đối với học sinh
1. Việc
khen thưởng và xử lý vi phạm đối với học sinh trường giáo dưỡng được thực hiện
theo quy định tại Điều 41 và 42 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP.
2. Những
học sinh được khen thưởng bằng hình thức cho về phép thăm gia đình phải là
những học sinh thực sự tiến bộ trong lao động, học tập, rèn luyện, đạt từ loại
khá trở lên và đang còn bố, mẹ; người thân (ông, bà, anh, chị, em ruột hoặc
người trực tiếp nuôi dưỡng).
Thời
gian học sinh về phép được tính vào thời hạn chấp hành quyết định tại trường
giáo dưỡng.
3. Đối
với học sinh bị cách ly tại buồng kỷ luật, nếu học sinh đó có tiến bộ rõ rệt,
nhận thức rõ lỗi lầm của mình thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có thể xem xét,
quyết định giảm thời hạn cách ly tại buồng kỷ luật.
Điều
20. Quản lý và sử dụng kết quả lao động của trường giáo dưỡng
1. Việc
quản lý và sử dụng kết quả lao động của trường giáo dưỡng phải thực hiện theo
đúng quy định tại Điều 32 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP và các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
2. Kết
quả lao động của trường giáo dưỡng, sau khi trừ những chi phí hợp lý theo quy
định của pháp luật, số còn lại được sử dụng như sau:
- Sử
dụng 20% chi ăn thêm cho học sinh và chi phí thêm cho việc phòng, chữa bệnh cho
học sinh ngoài tiêu chuẩn Nhà nước cấp;
- Sử
dụng 25% chi phí cho việc bù tiền điện sinh hoạt của học sinh, sách, vở, các
phương tiện, dụng cụ phục vụ sinh hoạt, học tập, các hoạt động giáo dục bổ trợ
khác (văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí), tham quan, nghỉ
phép… cho học sinh;
- Sử
dụng 15% thưởng cho cán bộ và học sinh, trong đó 8% thưởng cho những học sinh
có thành tích xuất sắc trong lao động, học tập, rèn luyện và 7% thưởng cho cán
bộ, giáo viên của trường giáo dưỡng có thành tích trong việc quản lý, giáo dục
học sinh và tổ chức, quản lý lao động;
Những
học sinh được thưởng tiền có thể sử dụng để ăn thêm, mua các đồ dùng sinh hoạt
cá nhân, gửi lưu ký và nhận lại khi có yêu cầu hoặc ra trường hoặc gửi về giúp
đỡ gia đình theo các quy định của trường giáo dưỡng.
- Sử
dụng 25% chi xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất;
Việc sử
dụng kết quả lao động của trường để chi vào việc xây dựng, sửa chữa cơ sở vật
chất của trường giáo dưỡng, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải lập kế hoạch và
báo cáo bằng văn bản để xin ý kiến Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Thi hành
án hình sự và hỗ trợ tư pháp trước khi thực hiện.
- Sử
dụng 15% làm quỹ phúc lợi của trường giáo dưỡng.
3. Định
kỳ 6 tháng, 1 năm, trường giáo dưỡng phải báo cáo cụ thể kết quả lao động, việc
quản lý, sử dụng kết quả lao động của cơ sở mình về Bộ Công an (qua Tổng cục
Hậu cần – Kỹ thuật, Cục Tài chính, Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ
trợ tư pháp).
Chương
4.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH
Điều
21. Tổ chức thực hiện
1. Định
kỳ hàng năm, Công an các đơn vị, địa phương có liên quan tiến hành tổng kết,
báo cáo về công tác thi hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; kịp thời khen
thưởng tập thể, cá nhân có thành tích và chấn chỉnh những trường hợp chưa thực
hiện tốt biện pháp này.
2. Cục
Tài chính có trách nhiệm bố trí kinh phí và hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý,
sử dụng kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
theo các nhiệm vụ chi quy định tại Thông tư này.
3. Tổng
cục Hậu cần – Kỹ thuật có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện thống nhất
về trang bị cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật của trường giáo dưỡng theo quy
định của pháp luật.
4. Tổng
cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cho Công an các đơn vị, địa phương.
5. Giám
đốc Công an các tỉnh, thành phố, trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo
Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội tổ chức hướng dẫn Công an
cấp dưới thực hiện Thông tư này.
6. Tổng
cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp có trách nhiệm chủ trì giúp
lãnh đạo Bộ chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Thông tư này.
Điều
22. Hiệu lực thi hành
1. Thông
tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 6 năm 2011 và thay thế Thông tư
số 08/1998/TT-BCA ngày 03/12/1998 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện một số quy
định của Quy chế về trường giáo dưỡng ban hành kèm theo Nghị định số 33/CP ngày
14/4/1997 của Chính phủ.
2. Các
Tổng cục trưởng, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Công an các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa
cháy, Hiệu trưởng các trường giáo dưỡng có trách nhiệm thi hành Thông tư này.
Trong
quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc nảy sinh, Công an các đơn vị, địa phương,
các cơ quan, tổ chức có liên quan phản ánh về Bộ Công an (qua Tổng cục Cảnh sát
Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp) để có hướng dẫn kịp thời./.
|
Nơi
nhận:
- Văn phòng Chính phủ;
- Các đ/c Thứ trưởng Bộ Công an;
- Các Bộ: Tài chính, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Lao động – Thương binh và Xã
hội, Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản);
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Các Tổng cục, Bộ tư lệnh, đơn vị trực thuộc Bộ;
- Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Sở Cảnh sát phòng cháy
và chữa cháy;
- Công báo;
- Website Chính phủ;
- Lưu: VT, V19. 200b
|
BỘ TRƯỞNG
ĐẠI TƯỚNG
Lê Hồng Anh
|
|